Khi trẻ bị viêm cầu thận cấp (VCTC) có lẽ bạn sẽ có nhiều thắc mắc về chẩn đoán, điều trị và chăm sóc. Những thông tin dưới đây sẽ trả lời những câu hỏi trên.
1- Viêm cầu thận cấp là gì?
Viêm cầu thận cấp là biểu hiện lâm sàng của một thương tổn viêm cấp của những cầu thận, đặc trưng với sự xuất hiện đột ngột hồng cầu niệu, protein niệu, phù và tăng huyết áp.
2- Ai có thể mắc VCTC?
Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên thường gặp ở trẻ từ 5 - 10 tuổi (tuổi học đường).
3- Nguyên nhân gây ra VCTC?
Viêm cầu thận cấp có thể do nguyên nhân nhiễm khuẩn hoặc không do nhiễm khuẩn.
- Viêm cầu thận cấp do nhiễm khuẩn: Vi khuẩn thường gây bệnh nhất là liên cầu tan huyết bê-ta nhóm A được coi là mẫu hình của viêm cầu thận cấp. Chủng thường gây bệnh nhất là chủng 12, các chủng khác (1, 2, 4, 18, 24, 25, 49, 55, 57, 60) cũng có thể gây bệnh nhưng hiếm gặp hơn. Thường chủng 4, 12, 24 nếu là nhiễm khuẩn ở cổ họng, chủng 14, 19, 50, 55, 57 nếu là nhiễm khuẩn ngoài da. Một số vi khuẩn khác hiếm gặp hơn cũng có thể gây viêm cầu thận cấp như tụ cầu, phế cầu, thương hàn, não mô cầu, Klebsiella Pneumoniae, ...
- Viêm cầu thận cấp không do nhiễm khuẩn: luput ban đỏ hệ thống, viêm quanh động mạch dạng nút, ban xuất huyết dạng thấp(Schonlein Henoch)...
4- Triệu chứng của VCTC?
Bệnh thường gặp ở trẻ em và xuất hiện sau một đợt nhiễm khuẩn cổ họng hoặc ngoài da từ 7 - 15 ngày. Nhiễm khuẩn ở ngoài da thường ủ bệnh dài ngày hơn.
Giai đoạn khởi phát:
Thường là đột ngột nhưng có thể có dấu hiệu báo trước với:
Toàn thân mệt mỏi, sốt 38 - 390C hoặc nhẹ hơn.
Đau vùng thắt lưng hai bên, rối loạn tiêu hóa, chán ăn, đau bụng, buồn nôn.
Cũng có thể bệnh nhân đến viện vì còn viêm họng, viêm da.
Phù: Lúc đầu thường xuất hiện ở mặt, như nặng mí mắt, phù có thể khỏi nhanh, nhưng cũng có thể lan xuống chi rồi phù toàn thân. Phù trong viêm cầu thận cấp có đặc điểm: Phù mềm, trắng, ấn lõm để lại dấu ngón tay; phù quanh mắt cá, mặt trước xương chày, mu bàn chân,…. Phù trong viêm cầu thận cấp phụ thuộc vào chế độ ăn uống.
Đái ít hoặc vô niệu: Xuất hiện sớm, nước tiểu chỉ được 500 - 600ml/24giờ. Khi có thiểu niệu (nước tiểu dưới 500ml/24giờ) hoặc vô niệu (nước tiểu dưới 100ml/24giờ) là biểu hiện suy thận cấp.
Tăng huyết áp: Tăng huyết áp cả tối đa lẫn tối thiểu, thường rõ ở hai tuần đầu. Trên 60% viêm cầu thận cấp có tăng huyếp áp.
Đái máu: Ít khi đái máu đại thể, nếu có thường xuất hiện sớm cùng với phù, nước tiểu đỏ hay sẩm màu. Thường gặp hơn là đái máu vi thể (xét nghiệm nước tiểu có hồng cầu). Đái máu đại thể thường khỏi sớm nhưng đái máu vi thể thì kéo dài, hồng cầu niệu có khi 3 - 6 tháng mới hết.
5- Làm thế nào để phát hiện ra VCTC?
Dựa trên 3 dấu hiệu chính: phù, tăng huyết áp, thiểu hoặc vô niệu và hai dấu hiệu sau khi làm xét nghiệm: protein niệu và hồng cầu niệu.
6- Điều trị VCTC như thế nào?
- Thuốc: Kháng sinh: Chỉ cho kháng sinh khi còn tồn tại dấu hiệu nhiễm liên cầu.
+ Kháng sinh thường sử dụng là Pénicillin 1 triệu đơn vị/trẻ lớn, 500.000 đơn vị/trẻ nhỏ. Nếu dị ứng Pénicillin thì dùng Erythromycin 0,2 x 5 viên/ngày ở trẻ lớn hoặc Tetracylin. Kháng sinh dùng trong 7 - 10 ngày.
+ Điều trị biến chứng:
Tăng huyết áp: Thuốc hạ huyết áp: Các nhóm thuốc hạ huyết áp thường được sử dụng hiện nay là:
- Thuốc ức chế canxi: Có nhiều thuốc như nifédipin, amlodipin, felodipin, manidipin. Đây là nhóm thuốc thường được sử dụng chống tăng huyết áp do bệnh thận hiện nay.
- Thuốc ức chế men chuyển: như catopril, enalapril, perindopril. Là nhóm thuốc được xem là có tác dụng bảo vệ thậ Cần lưu ý tác dụng phụ tăng kali máu.
- Thuốc ức chế thần kinh trung ương: Trong nhóm này thuốc thường được sử dụng là méthyldopa (Aldomet)
+ Hoãn các tiêm phòng trong thời gian mắc bệnh viêm cầu thận cấp và ngay cả hai năm đầu sau khi hết viêm cầu thận cấp, nhất là vaccin chống ho gà, uốn ván.
+ Dự phòng:
Phát hiện sớm các ổ nhiễm khuẩn do liên cầu: viêm họng, viêm Amidal, viêm da...
Điều trị triệt để các ổ nhiễm khuẩn do liên cầu: kháng sinh, cắt Amidal.
Nâng cao vệ sinh cá nhân: giữ ấm cổ trong mùa lạnh đối với viêm họng, vệ sinh cá nhân đối với ghẻ bội nhiễm.
Nghỉ ngơi tuyệt đối, tránh vận động mạnh trong giai đoạn phù, đái ít.
- Trẻ bị VCTC cần chế độ ăn uống như thế nào?
Trẻ chỉ cần ăn nhạt trung bình trong khoảng 3 – 4 tuần. Khi hết phù không cần thiết phải ăn nhạt.
Cần hạn chế nước trong giai đoạn phù, đái ít. Lượng nước uống trong ngày nên bằng số lượng nước tiểu ngày hôm trước cộng thêm 200 – 300 ml.
- Có nên điều trị VCTC bằng thuốc nam không?
Chúng tôi không biết chính xác trong thành phần thuốc nam chứa những gì nên không thể kết luận có tốt hay không tốt đối với bệnh nhân VCTC. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của chúng tôi có nhiều trường hợp gia đình cho trẻ điều trị thuốc nam trong thời gian kéo dài nên khi đưa trẻ đến bệnh viện thì bệnh đã quá nặng do suy thận và điều trị gặp nhiều khó khăn.Vì vậy theo chúng tôi không nên cho trẻ điều trị bằng thuốc nam.
7- Gia đình nên làm gì trong giai đoạn trẻ đang điều trị?
Ðiều quan trọng nhất là theo dõi cân nặng, số lượng và màu sắc nước tiểu hàng ngày. Hàng tuần phải xét nghiệm lại nước tiểu một lần. Bạn nên ghi những thông tin này vào tờ lịch và báo cho bác sĩ trong những lần khám sau. Giữ ấm cho trẻ vào mùa đông, không tắm nước lạnh
8- Bằng cách nào gia đình biết trẻ đáp ứng với điều trị?
Hầu hết trẻ đáp ứng với điều trị sau 7 - 10 ngày. 90% bệnh nhân sẽ đáp ứng trong vòng 1 tuần. Những dấu hiệu chứng tỏ trẻ đáp ứng với điều trị: Lượng nước tiểu tăng, màu trong ; trẻ giảm cân ; huyết áp trở về bình thường.
9- Đối với trẻ đang điều trị VCTC ngoại trú, khi nào trẻ cần đi viện?
- Gia đình cần cho đưa trẻ đến bệnh viện khi trẻ xuất hiện phù trở lại, đái máu, đau đầu do tăng huyết áp.
- Trẻ tăng cân nhiều.
- Thông thường trẻ sẽ hết phù và hết protein trong nước tiểu trong vòng 7 – 10 ngày.
10- Sau khi trẻ bị VCTC ổn định, bệnh có tái phát không?
- Sau điều trị đợt đầu có 3 khả năng xảy ra: (1) bệnh khỏi hoàn toàn và không tái phát khoảng 95 – 96 %. (2) bệnh kéo dài, chuyển sang viêm cầu thận bán cấp hoặc mạn tính khoảng 4 - 5%. (3) bệnh tái phát rất hiếm gặp chỉ xảy ra ở khoảng 1% số bệnh nhân.
11- Những trẻ bị VCTC có phát triển bình thường và khỏe mạnh khi trẻ trưởng thành không?
Những trẻ VCTC cần có chế độ điều trị và theo dõi lâu dài, ít nhất 1 năm. Khi trẻ hết phù, một số gia đình thường nghĩ trẻ hết bệnh và tự ý ngưng thuốc và không tái khám - điều này hoàn toàn sai. Tuy nhiên, bệnh thường đáp ứng tốt với điều trị, hầu hết trẻ khỏi bệnh khi trưởng thành, chức năng thận thường bình thường và hiếm khi diễn biến đến suy thận mạn. Nếu được theo dõi, điều trị đúng, hầu hết bệnh nhân khỏi bệnh, công tác tốt và lập gia đình bình thường.
Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sáng